Thông tin thị trường

HoSTC HaSTC
Mã CK TC Khớp Lệnh +/-
Giá KL
(Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

Xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2011 và dự báo năm 2012

Xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2011 và dự báo năm 2012

 

Xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2011 và dự báo năm 2012

(Ngày đăng: 27/02/2012 )

(vasep.com.vn) Năm 2011, bên cạnh những khó khăn chung như nguồn nguyên liệu thiếu hụt, thị trường bất ổn định, và các thủ tục hành chính bất cập, ngành tôm Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh về nguồn nguyên liệu và giá XK với các nước SX khác trong khu vực. Tuy nhiên, các DN XK tôm Việt Nam vẫn đạt được thành tích khả quan với gần 2,4 tỷ USD, góp phần đáng kể cho kỷ lục 6,1 tỷ USD kim ngạch XK của toàn ngành thủy sản. Năm 2012, XK tôm Việt Nam sẽ tiếp tục gặp phải những thách thức về nguồn nguyên liệu, thị trường và chất lượng, rất cần sự hỗ trợ của nhà nước và sự chung tay của cộng đồng người nuôi và nhà chế biến, XK. Đây cũng chính là nội dung Bản tham luận của Ủy ban Tôm VASEP tại Hội nghị Tôm nước lợ diễn ra tại Cà Mau ngày 8/2/2012.

Xuất khẩu năm 2011

Năm 2011, mặt hàng tôm vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các sản phẩm thủy sản XK chủ lực của Việt Nam, chiếm 39,8%. Mặc dù nguồn nguyên liệu tôm sú thiếu hụt nghiêm trọng do dịch bệnh ở khu vực ĐBSCL, nhưng lại được bù đắp bằng nguồn cung cấp tôm chân trắng và một phần đáng kể nguồn tôm NK từ các nước, nên XK tôm vẫn duy trì tăng trưởng khả quan gần 14% so với năm trước. XK tôm sú giảm 0,6% trong khi XK tôm chân trắng tăng gần 70% về giá trị so với năm 2010.

Những bất cập về con giống và dịch bệnh khiến cho sản lượng tôm sú giảm, giá nguyên liệu tăng (tôm sú cỡ 35- 40 con/kg tại Cà Mau, Sóc Trăng luôn đứng ở mức 200.000 đ/kg). Năm 2011, tôm chân trắng có sự biến động tích cực rõ rệt, do nhu cầu của thị trường thế giới tập trung vào loài tôm này vì cỡ nhỏ, giá rẻ, trong khi loài tôm này có khả năng kháng bệnh cao, nguồn cung ổn định hơn tôm sú. Nhiều DN chế biến XK đã chuyển hướng từ tôm sú sang tôm chân trắng hoặc kết hợp cả 2 loài này để chủ động nguồn cung, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa thị trường. Động thái này khiến giá tôm chân trắng tăng mạnh trong năm 2011 và liên tục biến động. Đến tháng 12, giá tôm chân trắng cỡ 100 con/kg tại Phú Yên lên tới 105.9000 đồng/kg, tăng 25.000 đồng (30%) so với đầu năm. Tại Cà Mau, giá tôm cùng cỡ cũng lên tới mức 100.000 đồng/kg, tăng 20.000 đồng (25%) so với đầu năm.

Tổng giá trị XK tôm của Việt Nam cả năm đạt 2,396 tỷ USD, vượt qua mốc 2 tỷ cả năm 2010. Trong đó, XK tôm sú đạt trên 1,43 tỷ USD, chiếm gần 60% tổng giá trị, XK tôm chân trắng đạt 704 triệu USD, chiếm 29,3% tỷ trọng, 12% còn lại là tôm các loại khác.

Năm 2011, tôm Việt Nam đã thâm nhập sâu hơn vào các thị trường khác ngoài 3 thị trường trọng điểm truyền thống là Mỹ, Nhật Bản và EU. Năm 2010, giá trị XK tôm sang 3 thị trường này chiếm trên 71% tổng giá trị XK tôm cả nước. Sang năm 2011, tỷ trọng này giảm xuống còn 66%. Trong khi đó, XK sang một số thị trường khác như Hàn Quốc, ASEAN ..và đặc biệt là sang Nga tăng mạnh. XK tôm sang Nga tăng 124% so với năm 2010, sang Hàn Quốc tăng 23%, sang ASEAN tăng 54,7%.

Giá trung bình tôm XK hàng tháng của Việt Nam năm nay đạt 9,2 – 9,9 USD/kg, cao hơn khoảng 12-18%, có thời điểm cao hơn 28% so với năm trước. Hầu hết các loại tôm XK đều có giá tăng. Mặt hàng tôm sú và tôm chân trắng thuộc mã HS03 có mức tăng chậm hơn những mặt hàng đã chế biến (HS16).

Tôm sú vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu XK tôm của Việt Nam trong năm 2011. Tuy nhiên, tỷ trọng về khối lượng và giá trị đang giảm dần, đặc biệt là mặt hàng tôm sú sống/tươi/đông lạnh (thuộc mã 030613). Tỷ trọng của tôm chân trắng trong tổng XK tôm đã lên tới 29%, so với 26% năm 2010. Tỷ trọng nhóm hàng XK tôm đã qua chế biến (mã HS 160520) đang có xu hướng tăng. Năm 2010, giá trị XK tôm sống/tươi/đông lạnh chiếm gần 76% tổng giá trị XK nhưng sang đến năm 2011 chỉ còn chiếm 70%. Trong khi đó, giá trị XK tôm chế biến tăng từ 23% năm 2010 lên 28% năm 2011.

Thị trường:

Năm 2011, tôm Việt Nam có mặt ở 91 thị trường trên thế giới. Trong đó, các thị trường XK tôm Việt Nam, Mỹ, Nhật, EU là 3 thị trường lớn nhất (chiếm 66% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam) trong đó Nhật Bản chiếm tỷ trọng cao nhất với 25%. Đã có thời điểm, Mỹ vượt qua Nhật Bản trở thành thị trường NK tôm hàng đầu của Việt Nam tuy nhiên, Nhật Bản nhanh chóng lấy lại vị trí này ngay một tháng sau đó. Năm 2011, EU là thị trường duy nhất trong 3 thị trường chính duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định. Top 10 thị trường NK tôm Việt Nam lớn nhất (gồm Nhật Bản, Mỹ, Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đức, Canađa, Ôxtrâylia, Đài Loan, Anh) chiếm tới 82% tỷ trọng giá trị XK tôm của Việt Nam. 

Nhật Bản: XK tôm vào Nhật năm 2011 đạt 607,2 triệu USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2010. Năm 2011 chứng kiến sự trồi sụt đáng kể trong XK tôm sang Nhật Bản. Thảm họa kép (động đất và sóng thần) tại Nhật Bản gần cuối tháng 3 khiến XK tôm sang thị trường này sụt giảm mạnh do nhu cầu thị trường xuống thấp. Sau 5 tháng giảm sâu, XK tôm sang Nhật Bản mới tăng trưởng trở lại vào tháng 8. Góp phần vào mức sụt giảm này cũng phải nhắc tới việc Nhật Bản áp dụng biện pháp tăng cường kiểm tra 100% Enrofloxacin vào đầu tháng 6 trong khi ngành tôm vẫn đang “loay hoay” với hàng loạt lô tôm XK sang Nhật Bản chứa dư lượng Trifluralin, một hoạt chất diệt cỏ bị phía Nhật thắt chặt kiểm tra tới 100% vào tháng 9 năm ngoái.

Do sự cộng hưởng của thiên tai tại Nhật Bản và khủng hoảng kinh tế thế giới, khối lượng NK tôm vào Nhật Bản 10 tháng đầu năm 2011 giảm gần 4%. Trong 5 nước cung cấp tôm hàng đầu cho Nhật Bản gồm Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Ấn Độ và Trung Quốc thì có tới 3 nước đứng đầu giảm khối lượng XK tôm sang thị trường này so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, NK từ Việt Nam giảm mạnh nhất 22,2%; từ Thái Lan: giảm 3,7%; Inđônêxia: giảm 4,1%. Ngược lại, NK từ Ấn Độ và Trung Quốc lại tăng khá với mức tăng tương ứng 4,7% và 23,3%.

Mỹ: Năm 2011, XK tôm sang Mỹ đạt 558,5 triệu USD, tăng 1% về giá trị so với năm trước. 6 tháng đầu năm nay, XK tôm sang Mỹ liên tục tăng trưởng trên hai con số nhưng 5 tháng cuối năm lại giảm mạnh. Tiêu thụ tôm trên thị trường Mỹ vẫn chưa có dấu hiệu “nóng lên” trong khi lượng dự trữ tôm của thị trường này còn rất nhiều.

Năm 2011, dịch bệnh trên tôm sú dường như đã làm Việt Nam mất đi ưu thế của mình về XK tôm cỡ lớn sang Mỹ. Thống kê của Cơ quan thống kê Mỹ cho thấy, NK tôm cỡ lớn U/15 vào thị trường này 10 tháng đầu năm giảm 3,3%.

Năm 2011, Thái Lan vẫn duy trì vị trí dẫn đầu về cung cấp tôm cho thị trường Mỹ mặc dù lượng XK giảm do ảnh hưởng của lũ lụt. Thống kê của Cơ quan Thống kê Mỹ cho thấy 10 tháng đầu năm, NK tôm Thái Lan vào Mỹ giảm gần 7%, từ 160.707 tấn cùng kỳ năm ngoái xuống còn 149.757 tấn. Trong khi đó, NK từ Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Mêhicô và Êcuađo lại tăng mạnh. Trong đó, NK từ Ấn Độ tăng 77%, Inđônêxia (+14,4%), Êcuađo: +11%, Mêhicô: 25,5% và Malaixia: 18,8%.

EU: XK tôm sang EU năm 2011 tăng 20% về giá trị so với cùng kỳ năm 2010 đạt 412,8 triệu USD. EU là thị trường chính duy nhất trong ba thị trường NK tôm hàng đầu duy trì sức tăng trưởng dương trong suốt 11 tháng qua. Tuy nhiên, sang tháng 12, XK tôm sang EU đã bị sụt giảm đáng kể (giảm 11%) do NK vào Bỉ giảm mạnh (35,5%). Đức, Anh, Bỉ, Pháp, Hà Lan là 5 thị trường NK tôm hàng đầu EU, chiếm 81% tổng giá trị NK tôm vào khu vực này.

Các nước EU có xu hướng tăng cường NK tôm từ các nước thuộc khu vực, thị phần của các nước Bỉ, Tây Ban Nha, Hà Lan đều tăng trong khi đó, thị phần của các nước Êcuađo, Ấn Độ, Bănglađét, Thái Lan, Mađagatxca lại giảm nhanh.

Trung Quốc & Hồng Kông: XK tôm sang Trung Quốc & Hồng Kông năm 2011 tăng mạnh, tăng 54% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 224 triệu USD. Liên tiếp trong mấy năm trở lại đây, XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc tăng rất mạnh. Năm 2011, XK tôm sang thị trường này luôn tăng trưởng từ 2-3 con số ngay từ những tháng đầu năm.

Năm nay DN chế biến và XK tôm Việt Nam đã phải cạnh tranh thu mua tôm nguyên liệu với thương lái Trung Quốc ngay trên sân nhà. Thực trạng này phần nào phản ánh nhiều bất ổn trong nguồn cung tôm nguyên liệu trong nước của Trung Quốc.

Đứng thứ 3 thế giới về XK, nhưng Trung Quốc cũng nằm trong 15 nước NK tôm hàng đầu thế giới. Sản phẩm tôm NK chủ yếu của Trung Quốc là tôm vỏ đông lạnh cỡ nhỏ (chiếm khoảng 48% giá trị NK), tôm vỏ đông lạnh cỡ lớn (chiếm 33%). Bên cạnh việc tăng cường tìm nguồn hàng từ các nước Châu Á, Trung Quốc đã gia tăng NK từ các nước thuộc khu vực khác như Êcuađo và Canađa. 8 tháng đầu năm 2011, Trung Quốc NK tôm từ 47 nước trên thế giới, trong đó 5 nước XK tôm hàng đầu là Canađa, Êcuađo, Thái Lan, Ấn Độ và Grinlen.

10 tháng đầu năm 2011, Trung Quốc XK 221.664 tấn tôm các loại, trị giá trên 1,58 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng nhưng giảm tới 38% về giá trị FOB so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, tôm chế biến chiếm 43%, tôm HLSO và HOSO chiếm 57%.

Hàn Quốc: Là nước NK tôm đông lạnh đứng thứ 9 thế giới về giá trị và là thị trường đơn lẻ đứng thứ 5 về giá trị NK tôm của Việt Nam trong vừa qua. Năm 2011, XK tôm Việt Nam sang thị trường này tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, đạt 157,6 triệu USD. Tăng trưởng XK tôm vào Hàn Quốc nói chung thuận lợi, khối lượng XK tăng dần và luôn cao hơn cùng kỳ năm trước. Tôm đông lạnh nguyên liệu chiếm 77% giá trị XK tôm sang Hàn Quốc, còn lại là tôm chế biến.

Tôm Việt Nam có vị trí tương đối vững tại thị trường Hàn Quốc. Từ năm 2006 trở về trước Việt Nam luôn đứng sau Thái Lan và Trung Quốc về giá trị XK tôm sang Hàn Quốc. Nhưng từ năm 2007 đến nay, Việt Nam đã vượt trội lên giành vị trí quán quân và sẽ tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao qua từng năm.

Có 25 quốc gia và vùng lãnh thổ XK tôm đông lạnh nguyên liệu vào Hàn Quốc trong 11 tháng đầu năm 2011. Trong đó, Việt Nam chiếm thị phần chi phối với 37% tôm nguyên liệu, tiếp đến là Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc với thị phần khoảng 17% mỗi nước.Việt Nam chiếm 42% NK tôm chế biến của Hàn Quốc, tiếp đến là Trung Quốc và Thái Lan.

Cơ hội và thách thức:

Năm 2011 ngành tôm gặp không ít khó khăn, thách thức về nguồn nguyên liệu, thị trường và các chính sách và năm 2012 có thể sẽ vẫn phải đối mặt với những khó khăn này, nếu không có các giải pháp hợp lý, XK tôm chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.

Về nguồn nguyên liệu: Tôm chân trắng đang phát huy lợi thế tối đa trong sản xuất, chế biến và XK tôm Việt Nam. Năm 2011 vừa qua, hơn 81.000 ha tôm sú bị thiệt hại do dịch bệnh và nguyên nhân chính là do việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Cypermethrin, Deltamethrin ..rất độc đối với các loài cá tôm và thủy sinh khác. Tôm chân trắng chính là nguồn nguyên liệu bù đắp quan trọng với sản lượng thu được tính đến hết tháng 11 là 118.087 tấn. Năm 2012 tôm chân trắng sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh và chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu XK tôm của Việt Nam.

Nguồn tôm nguyên liệu trong nước sẽ tiếp tục “bấp bênh” nếu người nuôi không tuân thủ đúng các qui định trong nuôi trồng thủy sản để hạn chế tối đa dịch bệnh. NK tôm nguyên liệu sẽ vẫn là nhu cầu tất yếu nhưng thuế NK chưa thực sự hỗ trợ với mức 10%.

Về thị trường: Năm 2011, mặc dù kinh tế thế giới có nhiều biến động. Nền kinh tế Mỹ, Nhật Bản và EU đều chịu nhiều tác động nhưng nhu cầu NK và tiêu thụ tôm vẫn gia tăng.

Năm 2011, XK tôm sang Nhật Bản tiếp tục bị tăng cường kiểm soát kháng sinh Enrofloxacin tiếp sau hoạt chất Trifluralin. Số lượng các lô hàng bị nhiễm các chất cấm nằm trong hệ thống cảnh báo của Nhật Bản không có dấu hiệu giảm. Nguy cơ Nhật Bản ngày càng tăng cường hơn nữa kiểm soát tôm NK từ Việt Nam là rất lớn.

Tôm Việt Nam phải cạnh tranh về giá XK vớ các nước đối thủ như Inđônêxia, Ấn Độ và Thái Lan. Giá tôm XK của Việt Nam cao hơn 15 – 20% so với giá của Ấn Độ và Inđônêxia.

Về chính sách, quy định và sự quản lý nhà nước: Năm 2011, nhiều DN xuất khẩu tôm gặp nhiều vướng mắc, khó khăn và tốn nhiều chi phí do các quy định chồng chéo của các cơ quan nhà nước trong quản lý, kiểm tra và kiểm soát chất lượng thủy sản XK. Chính sách tài chính, đặc biệt là lãi suất cho vay tín dụng cao gây bất lợi cho nhiều DN XK thủy sản.

Dự báo năm 2012:

Nguồn nguyên liệu: Nguồn nguyên tôm nguyên liệu trong nước sẽ ổn hơn trong năm tới nhờ sự góp mặt của tôm chân trắng và sự đúc rút kinh nghiệm từ dịch bệnh tôm sú năm 2011.

Theo nguồn tin từ Thái Lan, dự báo trong đầu năm 2012, nguồn cung tôm chân trắng cỡ lớn từ Thái Lan sẽ thiếu hụt do ảnh hưởng của đợt lụt tồi tệ bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài trong nhiều tháng sau đó.

Xu hướng thị trường: Nhu cầu tiêu thụ tôm tại các thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc sẽ vẫn cao trong năm tới. Tuy nhiên, Mỹ và Nhật Bản đều đang có xu hướng gia tăng NK hàng giá trị gia tăng và giảm NK hàng nguyên liệu.

Nền kinh tế tại nhiều nước châu Âu đang bất ổn và khó có thể hồi phục trong thời gian ngắn và trung hạn. Vì vậy, nhu cầu tiêu thụ và NK tôm vào thị trường này năm tới dự báo sẽ không thật sự khả quan.

Xu hướng xuất khẩu:Xuất khẩu tôm sang Trung Quốc và Hàn Quốc sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong năm tới. DN tôm có thể sẽ đẩy mạnh XK tôm cỡ lớn sang Mỹ để bù đắp cho lượng thiếu hụt từ nguồn cung tôm Thái Lan và tiếp tục đẩy mạnh XK tôm GTGT đế đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường.

Để đạt được mục tiêu XK tôm 2,5 tỷ USD, đưa tổng XK thủy sản lên 6,5 tỷ USD vào năm 2012, DN XK thủy sản nói chung và DN tôm nói riêng rất mong đợi sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý trong các cơ chế chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và XK, giảm chi phí cho DN và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam, nhất là sản phẩm tôm đang bị áp lực về chi phí nguyên liệu, bao bì và sự cạnh tranh về giá XK với các nước khác…